Tiêu biểu như tại thôn Tả Phìn, xã Dền Thàng, huyện Bát Xát có hàng chục cặp thành thân cận huyết, cá biệt có hộ gia đình có 2 cặp hôn nhân cận huyết trực hệ
Ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên phổ quát nhất là hôn nhân con cô- con cậu, tức thị hôn nhân của anh, em trai với chị, em gái.
Có trường hợp, ông bác mới sinh con gái, bà cô sang chơi mang cho vuông vải, phần để mừng đứa cháu, phần cũng là “miếng trầu dạm ngõ”, đánh dấu cô cháu gái của mình tương lai sẽ trở nên nàng dâu của mình… Những đứa trẻ mang “di chứng hôn nhân” Những người dân tộc có hôn nhân cận huyết hệ lý giải rằng: Hôn nhân theo cách này mới đảm bảo tài sản được lưu giữ trong gia đình.
Thực tế, họ chưa tinh thần được, những đứa trẻ ra đời từ những mối “nhân duyên” này sẽ chịu những di chứng gì từ cha mẹ, ông bà chúng. Hủ cải giá nhân cận huyết tộc vẫn bất cập ở đồng bào DTTS.
Các CLB sinh hoạt hàng tuần, hàng tháng đều đặn nhằm tuyên truyền, vận động người dân, đặc biệt phân công các thành viên đến từng hộ gia đình có nguy cơ thành thân cận huyết để vận động.
Đa số các em đều ở độ tuổi còn rất trẻ, từ 4 - 28 tuổi, trong đó có những em đã đến tuổi trưởng thành nhưng cũng chỉ sống theo kiểu “tầm gửi”. Hà Nhân. Trong quan niệm của họ, vấn đề hôn nhân được xử lý ở giác độ tình cảm, thói quen chứ không coi xét đến khía cạnh pháp luật. Bác sĩ Bùi Văn Nghệ (Trạm trưởng trạm Y tế xã Vĩnh Đồng) cho biết: Vài năm trở lại đây, không khí u ám che cả một vùng quê nghèo vì hậu quả của hôn nhân cận huyết tộc.
Ước tính, làng nhàng mỗi năm ở nước ta có thêm chí ít là hơn 100 cặp vợ chồng kết hôn cận huyết thống. Thực tiễn, con số còn đau xót hơn nhiều. Trước thực trạng kết hôn cận huyết thống, UBND tỉnh Sơn La đã có nhiều văn bản chỉ đạo, chỉ dẫn nhằm thực hiện có hiệu quả “Mô hình can thiệp làm giảm tình trạng tảo hôn và hôn phối cận huyết hệ, góp phần nâng cao chất lượng dân số”.
Những dân tộc này họ có tập tục, tập quán riêng. Hiện nay, một số địa phương đã có cách khắc phục nhằm tiến tới hạn chế và chấm dứt tình trạng hôn nhân cận huyết. Tại Hà Giang, từ năm 2010, xã Bản Ngò, huyện Xín Mần đã tiến hành khai triển mô hình tảo hôn, thành thân cận huyết tộc bằng việc thành lập 2 câu lạc bộ: CLB ở trường trung học cơ sở với 20 thành viên; và CLB ở xã với 30 thành viên tham gia.
Lệ làng”, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu của đồng bào dân tộc. Trong đó, một cặp có tới 3 con đầu sinh ra đều bị kì quái bẩm sinh và chết sơ sinh; một cặp khác sinh con ra đều bị bại liệt… Ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình có tới 90% dân số người Mường, nơi đây được coi là “điểm nóng” của tình trạng hôn nhân cận huyết.
Tỉnh tụ tập tuyên truyền, vận động hỗ trợ pháp lý, phổ quát Luật Hôn nhân và Gia đình trong đồng bào các dân tộc địa phương tại 26 xã có tỷ lệ thành hôn cận huyết thống cao là: Tà Xùa, Phiêng Côn (Bắc Yên); Kim Bon, Tân Lang (Phù Yên); Lóng Luông, Vân Hồ, Lóng Sập (Mộc Châu)… Các mô hình khai triển nhằm hạn chế tối đa việc thành hôn cận huyết hệ tiến tới xóa bỏ tình trạng “phép vua thua.
Đây được xem là thiếu sót của truyền thông. Đây là “cuộc chiến” cần sự tham dự của cả cộng đồng, đặc biệt là vai trò của các chức sắc đạo, những người có uy tín trong cộng đồng nhằm tuyên truyền chống tồi tảo hôn và hôn nhân cận huyết.
Theo kết quả khảo sát tại Lào Cai cũng cho biết trong 224 cặp kết hôn cận huyết thống có 24 cặp chưa sinh con, 200 cặp còn lại sinh ra 55/8 trẻ, trong đó có 51 trẻ không thông thường, từ bẩm sinh chúng đã mắc các bệnh như: Bạch tạng, thiểu năng trí não, liệt, câm, lông mi trắng, mù lòa… và có 8 trẻ đã chết yểu.
Truyền thông bất lực? Theo cán bộ tư pháp tại địa phương thì, vấn đề thành hôn cận huyết tộc khó tiếp cận quản lý tại cộng đồng dân tộc thiểu số vì người dân ở đây đều sống theo hủ tục này, trở thành một phần trong đời sống văn hóa dân tộc. Đắng lòng chuyện con anh lấy con em Theo thống kê của Trung tâm nghiên cứu và phát triển dân số (Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế), tại một số dân tộc như: Lô Lô, Hà Nhì, Phù Lá, Chứt, Ê Đê, Chu Ru… và đặc biệt là các dân tộc Si La (Điện Biên, Lai Châu), Lô Lô, Pu Péo (Hà Giang), Mông Xanh (Lào Cai), Rơ mân, Brau (Kon Tum) thì cứ 100 trường hợp hôn phối thì có 10 trường hợp là hôn nhân cận huyết hệ.
Theo thống kê của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, trong 5 năm trở lại đây, tại 13 tỉnh miền núi, số cặp vợ chồng thành thân cận huyết có thiên hướng gia tăng.
Toàn xã có 10 em bị bệnh huyết tán bẩm sinh (Thalassemia) thì có 2 em đã tử vong còn 8 em đang phải qua cuộc sống khôn cùng thương tâm. Phần đông, những người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa không biết những hệ lụy nghiêm trọng từ hôn nhân cận huyết gây ra. Tiên sư cha nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số truyền rằng, lấy nhau trong họ tộc để không mang của cải sang họ khác.
Tiêu biểu như ở Lào Cai, trong cuộc khảo sát mới đây trên địa bàn 44 xã thuộc 9 huyện đã phát hiện 224 cặp kết hôn cận huyết, trong đó, 221 cặp là con bác lấy con dì; con chị gái lấy con em trai, cháu lấy dì, chú lấy cháu…Có trường hợp thành thân ở Bắc Hà và Sapa con anh trai lấy con em trai… Cá biệt có trường hợp gia đình sinh được hai đứa con, một đứa cho đi làm con nuôi, khi lớn lên lại quay về kết hôn với em gái mình.
Họ đang là những dân tộc ít người có nguy cơ suy giảm dân số và chất lượng giống nòi rõ rệt nhất do tình trạng hôn nhân cận huyết gây ra. Thầy thuốc Dương Minh Hiền, Phó Chi cục trưởng Chi cục DS- KHHGĐ tỉnh Cao Bằng cho biết: Tại Cao Bằng, tình trạng hôn nhân cận huyết tộc xảy ra nhiều nhất đối với dân tộc Dao (64%); Mông (61%), Tày (23%), nhiều nhất là tại ba huyện: Bảo Lạc, Nguyên Bình và Thông Nông, chiếm 45%.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét